Bộ trưởng Đặng Quốc Khánh: Đến 2023, thu từ cấp quyền khai thác khoáng sản đạt trên 55.800 tỉ đồng

Trả lời chất vấn trước Quốc hội sáng nay 4-6, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh cho biết tính đến năm 2023, tổng số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là hơn 55.887 tỉ đồng.

 
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh - Ảnh: GIA HÂN
 

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh – Ảnh: GIA HÂN

Sáng 4-6, Bộ trưởng Đặng Quốc Khánh lần đầu trả lời chất vấn trước Quốc hội, kể từ khi nhận nhiệm vụ bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Thời gian trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh từ 8h10 sáng 4-6 đến 14h20 chiều cùng ngày.

Ông Khánh sẽ trả lời về nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường, gồm việc quản lý, khai thác, bảo vệ tài nguyên biển quốc gia; tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về an ninh nguồn nước.

Giải pháp phòng, chống tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu, suy giảm, ô nhiễm nguồn nước.

Ông Khánh cũng trả lời về giải pháp nghiên cứu, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng và tài nguyên, khoáng sản quý hiếm.

Lo sử dụng cát biển làm vật liệu xây dựng ảnh hưởng môi trường

Phát biểu mở đầu, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh cho hay với vai trò là bộ quản lý đa ngành ở 9 lĩnh vực, phạm vi quản lý rộng, có vai trò lớn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội, đời sống người dân và doanh nghiệp.

Thời gian qua, việc quản lý và sử dụng tài nguyên hiệu quả, đa mục đích. Chính sách quản lý tài nguyên nước được hoàn thiện, đảm bảo chất lượng và an ninh nguồn nước. Ngành khai khoáng, công nghiệp khoáng sản có đóng góp tích cực, giúp tăng thu ngân sách.

Tuy vậy, bộ trưởng cho rằng thực tiễn còn nhiều vấn đề đặt ra cho ngành để hoàn thiện hơn nữa trong quản lý, cơ chế chính sách. Vì vậy phiên chất vấn là cơ hội để lắng nghe và hoàn thiện hơn nữa chính sách. “Tôi xin được lắng nghe các ý kiến của Quốc hội” – Bộ trưởng Khánh nói.

Toàn cảnh phiên chất vấn - Ảnh: GIA HÂN

Toàn cảnh phiên chất vấn – Ảnh: GIA HÂN

Đặt vấn đề về cơ chế đặc thù khai thác khoáng sản, vật liệu cho phục vụ xây dựng hạ tầng, đại biểu Đặng Bích Ngọc (Hòa Bình) nêu vấn đề về quản lý thế nào cho hiệu quả. Tương tự, đại biểu Trần Kim Yến (TP.HCM) cũng nêu vấn đề sử dụng cát biển thay cát sông có thể ảnh hưởng đến môi trường, mang mặn vào nền đất yếu.

“Bộ trưởng có giải pháp gì để quản lý vấn đề này, không ảnh hưởng môi trường và an ninh nguồn nước?” – đại biểu Yến nêu.

Đại biểu Trần Quang Minh (Quảng Bình) nêu vấn đề chế biến alumin, nhôm và đất hiếm, đặc biệt là đất hiếm với ngành công nghệ cao. Đề nghị bộ trưởng nêu rõ quản lý khai thác và sử dụng đất hiếm.

Dùng cát biển không được để nhiễm mặn môi trường xung quanh

Trả lời ý kiến của đại biểu Kim Yến, bộ trưởng nói việc sử dụng vật liệu xây dựng, cát cho các dự án trọng điểm quốc gia, nhất là đường cao tốc rất khó khăn.

Thủ tướng cũng chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu sử dụng cát biển. Hiện nay dự án thí điểm của Bộ Giao thông vận tải theo hội đồng của bộ cho thấy cát biển có thể san lấp, thi công đến độ K95.

Đại biểu Trần Kim Yến (TP.HCM) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Trần Kim Yến (TP.HCM) – Ảnh: GIA HÂN

Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao đánh giá trữ lượng, khu vực lấy cát biển. Bộ đã hoàn thành đánh giá trữ lượng ở Sóc Trăng và với trữ lượng có thể lấy ngay là 145 triệu m3, cách bờ gần 20km. Thân mỏ chiều sâu 7m.

Bộ cũng khuyến cáo lấy cát biển chỉ lấy 2m để giảm tác động. Có nghĩa trữ lượng cát biển rất lớn và hiện cát biển đã được sử dụng san lấp, sử dụng ở các khu kinh tế ven biển.

Về lo ngại dùng cát biển nhiễm mặn, bộ trưởng nói đúng và khi sử dụng cát biển phải đánh giá tác động môi trường. Hiện nay cát biển sử dụng tốt nhất ở các khu vực đã có độ nhiễm mặn. Cát biển phải đảm bảo nguyên tắc không gây nhiễm mặn cho môi trường xung quanh. Tùy công trình, dự án, mức độ, theo bộ trưởng sẽ được đánh giá tác động từng dự án một. Bộ trưởng bày tỏ đồng tình với đại biểu Kim Yến là việc dùng cát biển mặn song không được để tác động, gây nhiễm mặn. Còn cát biển đưa vào vật liệu xây dựng thì Bộ Xây dựng sẽ có tiêu chuẩn, quy chuẩn đưa vào công trình nào, đưa như thế nào.

Luật hóa cơ chế đặc thù khai thác khoáng sản

Trả lời câu hỏi của đại biểu Đặng Bích Ngọc, Bộ trưởng Khánh cho biết thời gian qua với cơ chế đặc thù của Quốc hội, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự đồng lòng của địa phương nên đã thực hiện cơ chế đặc thù về cấp vật liệu san lấp cho các dự án trọng điểm quốc gia, cao tốc.

Ông Khánh nói bộ cũng ban hành hướng dẫn về vật liệu cho các dự án. Hiện các dự án đang vượt tiến độ.

Như vậy, theo ông Khánh, cơ chế đặc thù của Quốc hội rất hiệu quả. Để luật hóa việc này, theo ông Khánh, luật năm 2010, quy trình cấp mỏ cũng giống như cấp mỏ kim loại quý.

Theo đó, quy trình chưa được phân loại, phân nhóm. Hiện nay, để xử lý, bộ đã đề xuất Chính phủ trình Quốc hội Luật Địa chất khoáng sản, theo đó phân loại 4 nhóm khoáng sản.

Trong đó, nhóm 1 là kim loại quý, nhóm 2 là vật liệu xây dựng cao cấp, chế biến sâu, nhóm 3 là vật liệu xây dựng thông thường, nhóm thứ 4 là đá, sỏi. Trong đó, phân cấp triệt để nhóm 3 – 4 cho địa phương và dự thảo là không phải cấp phép mỏ, mà đăng ký, nộp nghĩa vụ thuế theo quy định. Ông nêu rõ với cơ chế của Quốc hội đã tổng kết đưa vào dự luật.

Khai thác khoáng sản mà địa phương bảo không biết là không phải

Đại biểu Lý Văn Huấn (Thái Nguyên) nêu công tác thanh tra, kiểm tra là một trong những biện pháp nhằm giảm thiểu, hạn chế tình trạng khai thác tài nguyên trái phép, cũng như gây ô nhiễm an ninh môi trường. Những vi phạm này đã được thể chế trong Bộ luật Hình sự. Từ đó, ông đặt vấn đề qua công tác thanh tra, kiểm tra, bộ trưởng đã kiến nghị xử lý những vụ việc vi phạm như thế nào, đặc biệt là những vụ việc có dấu hiệu tội phạm hình sự? Giải pháp của bộ trưởng trong thời gian tới để tăng cường công tác thanh tra, xử lý những hành vi vi phạm này?

Đại biểu Lý Văn Huấn (Thái Nguyên) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Lý Văn Huấn (Thái Nguyên) – Ảnh: GIA HÂN

Trả lời câu hỏi của đại biểu Huấn về công tác kiểm tra khai thác chế biến khoáng sản, ông Khánh cho biết hoạt động này được phân cấp quản lý mạnh cho địa phương và bộ tăng cường, thường xuyên kiểm tra, thanh tra, giám sát.

Trong 5 năm qua đã có 12 cuộc thanh tra, 40 cuộc kiểm tra chấp hành về khoáng sản, với 933 lượt giấy phép, phát hiện 258 tổ chức, cá nhân vi phạm, xử phạt với tổng số tiền 30 tỉ đồng.

Qua thanh tra cho thấy các dự án mỏ sai phạm trong khai thác vượt quá công suất cho phép, khai thác ra ngoài ranh giới, không đảm bảo yêu cầu và điều kiện về môi trường…

“Bộ sẽ xử lý nghiêm sai phạm mang tính liên tục, nối tiếp. Hoạt động khai thác khoáng sản diễn ra cả nước, đã được phân công phân cấp mạnh ở địa phương, nên bộ phối hợp chặt chẽ các bộ ngành để tăng cường thanh tra, kiểm tra.

Tuy nhiên địa phương làm nghiêm việc này, chắc chắn địa phương biết. Khi khai thác khoáng sản, nhất là vật liệu xây dựng, ô tô chở, trang thiết bị hoạt động mà bảo không biết thì không phải nên địa phương phải thật sự quan tâm, cả hệ thống chính trị cùng giám sát để không khai thác trái phép tài nguyên” – bộ trưởng nhấn mạnh.

Ước tính trữ lượng đất hiếm của Việt Nam hơn 20 triệu tấn

Đại biểu Trần Quang Minh (Quảng Bình) đề nghị bộ trưởng cho biết rõ hơn về công tác khai khoáng, sử dụng và quản lý đất hiếm trong thời gian qua?

Trả lời câu hỏi này, bộ trưởng cho biết hiện nay Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản trữ lượng quan trọng tương đối lớn. Trong đó, bôxit khoảng 5,8 tỉ tấn, titan hơn 600 triệu tấn.

Với đất hiếm, bộ đã đánh giá trữ lượng khoảng 2,7 triệu tấn và tài nguyên đất hiếm khoảng 18 triệu tấn, như vậy, khoảng 20,7 triệu tấn.

Theo bộ trưởng, hiện Thủ tướng đang giao cho bộ có đề án điều tra cơ bản, đánh giá trữ lượng tổng thể đất hiếm, sau đó báo cáo Thủ tướng.

Bộ trưởng khẳng định quan điểm việc khai thác, chế biến khoáng sản có tính chiến lược như đất hiếm phải tính đến chế biến sâu, chế biến tinh tại Việt Nam, phục vụ cho công nghiệp Việt Nam như đang thu hút công nghiệp chip, bán dẫn.

Nếu chế biến sâu được, đất hiếm sẽ phục vụ cho Việt Nam và xuất khẩu. Tuy nhiên, theo bộ trưởng, với đất hiếm trước đây, việc chế biến chưa được nghiên cứu tổng thể, chưa có chế biến sâu. Việc thu hút đầu tư, liên doanh, chuyển giao công nghệ còn khó.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng, sau khi đánh giá trữ lượng đất hiếm chính xác thì yêu cầu phải chuyển giao công nghệ, cố gắng chế biến sâu, phục vụ phát triển đất nước…

Trong quá trình này, yêu cầu bộ, ngành, các địa phương có tiềm năng đất hiếm là Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai phải tăng cường quản lý đất hiếm. Cũng theo bộ trưởng, đất hiếm này có khu vực thân mỏ sâu nhưng có khu vực phân tán nhỏ lẻ, phân tán ở bề mặt nên phải quản lý tránh khai thác, buôn bán trái phép.

Lo an ninh nguồn nước, tình trạng sụt lún ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Nêu vấn đề về an ninh nguồn nước, tình trạng hạn hán, suy thoát nguồn nước, đại biểu Phạm Thị Kiều (Đắk Nông) cho rằng đây là thách thức lớn và đề nghị có giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước.

Trả lời, ông Khánh cho biết biến đổi khí hậu tác động lớn tới Việt Nam, trong đó ảnh hưởng nặng nề nguồn nước. Nguồn nước của ta 60% phụ thuộc nước ngoài, 40% nội sinh, nên việc đảm bảo an ninh nguồn nước là phải đảm bảo nguồn nước nội sinh.

Chính phủ đã có chỉ đạo là cần trồng thêm rừng, bảo vệ rừng, sử dụng hiệu quả nguồn nước. Tuy nhiên, bộ trưởng cho hay hiện có 80% nguồn nước sử dụng cho nông nghiệp, chủ yếu tưới tràn nên cần khắc phục sử dụng hiệu quả nguồn nước.

Về giải pháp, ông Khánh cho biết Chính phủ đã có quy hoạch về tài nguyên, các quy hoạch về lưu vực sông… đảm bảo hiệu quả sử dụng nước.

Về vùng Đồng bằng sông Cửu Long thiếu nước ngọt, ông Khánh cho hay sẽ tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân sử dụng tiết kiệm nước. Thêm nữa là điều hòa điều phối đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia. Phối hợp với các nước trong khu vực như Ủy ban sông Mekong đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia.

Nêu thực trạng sạt lở bờ biển, bờ sông bủa vây người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) đặt câu hỏi về công tác dự báo, đánh giá về tình hình này và giải pháp ổn định môi trường sống ở khu vực này, hạn chế sụt lún bờ biển, bờ sông.

Với câu hỏi này, Bộ trưởng Khánh cho hay do tác động của biến đổi khí hậu đã gây nên tình trạng sạt lở không chỉ ở Đồng bằng sông Cửu Long, mà cả miền Bắc và miền Trung. Dự báo từ nay đến cuối năm có đợt lũ lụt và mưa lớn nên cần phải lường trước và có kế hoạch ứng phó. Về sạt lở ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ông Khánh cho hay do địa chất của vùng còn non trẻ, vẫn đang tự lún, như từ Cần Thơ giai đoạn 2005 – 2017 lún khoảng 10cm.

Thêm nữa là lượng phù sa trước đây về nhiều, giờ giảm rất lớn gây thiếu hụt nguồn phù sa bồi đắp. Quá trình phát triển xây dựng đô thị, khu dân cư và nuôi trồng thủy sản đã tác động đến việc này, tăng tải trọng và lấn chiếm bờ sông, thay đổi dòng chảy, khai thác cát trái phép, dùng vòi hút vô tội vạ.

Về giải pháp, ông cho biết đã được Thủ tướng giao đánh giá đề án trữ lượng cát sỏi lòng sông khu vực này, từ đó đánh giá tổng thể vùng về việc khai thác. Các địa phương cũng đều có quy hoạch, sẽ rà soát sắp xếp lại dân cư các vùng có nguy cơ bị sạt lở, thực hiện ngay quy hoạch bố trí lại dân cư, bố trí lại vùng lấn chiếm lòng sông…

Tập trung giáo dục về biển đảo đến từng người

Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hạnh (TP.HCM) đề nghị bộ trưởng nêu rõ những đánh giá về hạn chế trong công tác giáo dục pháp luật về biển đảo, đồng thời bộ trưởng có giải pháp gì để công tác phổ biển, giáo dục chính sách pháp luật về biển và hải đảo ngày càng thiết thực, hiệu quả?

Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hạnh (TP.HCM) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hạnh (TP.HCM) – Ảnh: GIA HÂN

Trả lời câu hỏi này, bộ trưởng cho biết công tác phổ biến giáo dục pháp luật về biển đảo cố gắng đến từng người dân.

Trong đó, việc phổ biến pháp luật, ý thức trách nhiệm của người dân rất quan trọng, cả hệ thống chính trị phải vào cuộc để tuyên truyền.

Vừa qua để tuyên truyền Luật Tài nguyên nước, các luật về bảo vệ môi trường, bộ đã phối hợp với nhiều đơn vị thực hiện cả trực tiếp và trực tuyến với địa phương để phổ biến pháp luật, chính sách nhà nước.

Cùng với đó, ông đề cập giải pháp kịp thời phát hiện, xử lý những sai phạm. Ông nói vừa qua Ban Bí thư cũng đã ban hành chỉ thị, giao người đứng đầu địa phương chịu trách nhiệm trong việc chúng ta đánh bắt hải sản trái phép, không đúng quy định.

Bộ trưởng nêu rõ phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tuyên truyền phổ biến cho người dân đánh bắt hải sản đúng phép. Bên cạnh đó, trong quy hoạch thủy sản, Thủ tướng ban hành tập trung về không gian biển, khai thác vùng bờ. Trong đó, tập trung nuôi biển, nuôi xa biển. Hiện nay, sản lượng đánh bắt lớn và có những loại đánh bắt tận diệt. Vì vậy thời gian tới cần giảm tỉ trọng đánh bắt, tăng tỉ trọng nuôi biển, đặc biệt là nuôi xa biển.

Các dự án dọc bờ biển phải đánh giá nghiêm túc tác động môi trường

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Dương) đặt vấn đề về giải pháp của Bộ Tài nguyên và Môi trường để đảm bảo phát triển các dự án dọc bờ biển, khai thác cát nhưng vẫn bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học biển.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Dương) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Dương) – Ảnh: GIA HÂN

Trao đổi lại, Bộ trưởng Đặng Quốc Khánh cho biết Việt Nam có đường bờ biển dài. Nghị quyết 36 của trung ương (về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045) nêu rõ việc khai thác, sử dụng tài nguyên biển phải đảm bảo bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

Cùng với đó có sự thống nhất khai thác, sử dụng tài nguyên biển của nhiều ngành, lĩnh vực đòi hỏi các dự án đầu tư về du lịch, công nghiệp và kể cả dự án đô thị dọc hai bờ biển.

Một yếu tố phải rà soát thực hiện nghiêm túc, đó là đánh giá tác động môi trường, đảm bảo đánh giá đúng các tác động của dự án đến hệ sinh thái, môi trường biển, cũng như các lĩnh vực hàng hải, nuôi trồng thủy hải sản.

“Việc giải quyết các yếu tố chồng lấn giữa các dự án đã được Chính phủ chỉ đạo thực hiện để trình Quốc hội xem xét thông qua quy hoạch không gian biển quốc gia”, ông Khánh cho biết.

Theo ông Khánh: “Quy hoạch này sẽ gắn với các quy hoạch khác nhau, thực hiện nghiêm túc, vừa phát triển kinh tế biển bền vững, đảm bảo thực hiện nghiêm túc quy hoạch”.

Đại biểu Nguyễn Văn Thân (Khánh Hòa) đặt câu hỏi hiện nay rải rác có một số doanh nghiệp có giấy phép khai thác các mỏ cát nhưng đã hết hạn. Quan điểm của bộ trưởng trong việc cho gia hạn khai thác các mỏ này?

Bộ trưởng Đặng Quốc Khánh cho biết các mỏ được cấp phép khai thác tối đa 30 năm, được gia hạn nhiều lần nhưng không quá 20 năm. Như vậy tuổi thọ tối đa khai thác mỏ là 50 năm. Nếu sau thời gian 30 năm cấp phép, các mỏ còn trữ lượng, chủ mỏ phải làm đầy đủ các thủ tục xin gia hạn.

Trước 45 ngày (thời gian hết hạn), chủ mỏ phải làm đơn đề xuất, cơ quan thẩm quyền sẽ xem xét hồ sơ. “Chúng tôi chắc chắn tạo điều kiện cho các chủ mỏ tiếp tục gia hạn nếu đủ điều kiện. Nhưng thời gian không quá 20 năm”, ông Khánh nói.

Cần quan tâm xây dựng hệ thống xử lý nước thải ở bệnh viện huyện

Đại biểu Huỳnh Thị Hằng Nga (Trà Vinh) cho biết hiện nay, cơ sở hạ tầng, công nghệ xử lý chất thải chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế, đặc biệt là các cơ sở y tế quy mô nhỏ còn gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn giải pháp xử lý chất thải lây nhiễm, nước thải y tế, từ đó ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng dân cư.

Bà đề nghị bộ trưởng cho biết giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trên, quản lý tốt vấn đề liên quan đến chất thải lây nhiễm, nước thải y tế?

Trả lời nội dung này, bộ trưởng cho biết hiện nay chúng ta đang tập trung đầu tư các cơ sở y tế, trong đó có cơ sở tuyến huyện, xã. Với các tuyến trung ương, tỉnh đã được đầu tư cơ sở xử lý chất thải, nước thải bài bản. Nhưng đối với tuyến huyện, xã còn gặp khó khăn, trong đó có nguyên nhân về nguồn lực. Ông đồng tình quan điểm các cơ quan, địa phương rất cần thiết quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống nước thải tại các bệnh viện y tế tuyến huyện như đại biểu nêu.

Tranh luận tại phiên chất vấn, đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) cho biết công tác dự báo, dự phòng là một vấn đề hết sức quan trọng nhằm chủ động ứng phó kịp thời các biến động do ảnh hưởng của thiên tai. Do đó, đại biểu rất mong bộ trưởng quan tâm tới vấn đề này.

Bên cạnh đó, đồng tình với các nguyên nhân mà bộ trưởng đã nêu, đại biểu bổ sung thêm nguyên nhân làm gia tăng tình trạng hạn hán, suy thoái, cạn kiệt, xâm nhập mặn ở Việt Nam là tình trạng khai thác nước ngầm tràn lan. Bà đề nghị bộ có giải pháp quản lý tốt hơn tình trạng khai thác nước ngầm hiện nay.

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) – Ảnh: GIA HÂN

Trả lời nội dung này, bộ trưởng thống nhất với vấn đề đại biểu nêu, trong đó cần tăng cường khả năng dự báo, cảnh báo.

Bộ cũng đầu tư, chỉ đạo cơ quan trực thuộc nâng cấp trang thiết bị, phối hợp với các tổ chức quốc tế tăng cường năng lực dự báo. Hiện năng lực dự báo của Việt Nam đã tiếp cận với trình độ quốc tế, tính dự báo chính xác hơn. Điển hình như công tác dự báo hạn mặn được triển khai hiệu quả, cung cấp các bản tin thủy văn, nhiễm mặn, các bản tin cảnh báo thường xuyên theo chu kỳ 10 ngày, 1 tháng và theo mùa.

Thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tập trung đầu tư hơn nữa cho công tác này để có thể dự báo sớm, cảnh báo sớm và xử lý các rủi ro của biến đổi khí hậu gây ra.

Phục hồi các dòng sông chết thế nào?

Nêu thực trạng về các dòng sông chết, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Dương) đặt câu hỏi về giải pháp và kế hoạch của Bộ Tài nguyên và Môi trường để phục hồi và hồi sinh dòng sông chết, trong đó có hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải.

Trả lời nội dung này, bộ trưởng cho hay Luật Tài nguyên nước đặt ra yêu cầu phục hồi dòng sông chết. Trong đó, sông Bắc Hưng Hải, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Cầu… đang ô nhiễm nặng, không có dòng chảy. Vừa qua, các địa phương và bộ đã tích cực song vẫn chưa cải tạo được bao nhiêu, do các khu công nghiệp xả thải trực tiếp ra các dòng sông. Đặc biệt là cụm công nghiệp và làng nghề cũng chưa xử lý được bao nhiêu.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Dương) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Dương) – Ảnh: GIA HÂN

Thêm nữa là các đô thị như Hà Nội xả thải ra Bắc Hưng Hải mỗi ngày 260.000m3; xả thải vào sông Nhuệ là 66% nước sinh hoạt chưa xử lý… Hiện Hà Nội đã làm nhà máy xử lý với 180.000m3. Cùng đó cần khơi thông dòng chảy, tạo sự lưu thông như tại Bắc Hưng Hải, song chưa có giải pháp căn cơ. Tiến tới thành lập ủy ban quản lý lưu vực sông, nâng cao trách nhiệm các bộ, các tỉnh.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng tranh luận về câu trả lời của bộ trưởng về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học biển, phát triển kinh tế biển, song đại biểu yêu cầu bổ sung thêm việc đánh giá tác động của hoạt động lấn biển và khai thác cát biển tới đa dạng sinh học biển, khi vừa qua Chính phủ đã có quy định về hoạt động lấn biển.

Trả lời nội dung này, Bộ trưởng Khánh cho biết việc lấn biển diễn ra từ lâu để phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, việc lấn biển phải đánh giá được tác động môi trường, nghiêm túc bảo vệ môi trường hệ sinh thái và không làm ảnh hưởng đến môi trường nước.

“Không thể để dự án lấn biển mà cứ đổ đất cát xung quanh, không làm đê bao quanh, mà phải làm đê bao quanh trước, tức là lấn biển phải làm nghiêm, đảm bảo về bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học” – ông Khánh nói.

Đối với khai thác cát biển, ông Khánh nói đã nghiên cứu ở Sóc Trăng, đánh giá tác động khu vực để không ảnh hưởng bảo tồn sinh học, xa bờ gần 20km.

Tương tự, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) tiếp tục đặt câu hỏi về sử dụng cát biển ảnh hưởng đồng ruộng của người dân, vấn đề quy hoạch vùng triển khai thực hiện ra sao để có hồ đập chứa nước?

Làm gì để đô thị không ngập úng?

Đại biểu Nguyễn Hữu Thông (Bình Thuận) cho rằng một trong những nguyên nhân gây ngập úng tại các đô thị, nhất là các đô thị lớn là các công trình bê tông, khu dân cư lấn chiếm ao, hồ. Ông đề nghị bộ trưởng cho biết giải pháp căn cơ để khắc phục tình trạng trên?

Trả lời về ngập úng ở đô thị, Bộ trưởng Khánh bày tỏ thống nhất với ý kiến đại biểu Thông. Ông nói trước đây quy hoạch chưa được làm bài bản, trong đó có đánh giá tác động môi trường. Chúng ta chủ yếu làm quy hoạch phát triển đô thị, hạ tầng, dân cư nhưng chưa tính thật sâu, thật sát đến định hướng lâu dài. “Tại sao trước đây chúng ta không ngập”, ông Khánh đặt vấn đề và giải thích trước đây có ao, hồ điều tiết, tích trữ nước. Ao, hồ còn làm cảnh quan cho đô thị.

Cũng theo ông Khánh, trước đây nếu bị ngập úng thì cho chảy tràn nhưng hiện nay quá trình phát triển đô thị nên không còn ngăn. Hệ thống thoát nước của đô thị khi có mưa lớn chưa đảm bảo ứng phó được. Muốn chống ngập úng phải giải quyết đồng bộ những vấn đề này đặc biệt ở Hà Nội, TP.HCM.

“Trong các khu đô thị mới, tôi cũng muốn có nhiều ao, hồ vừa tạo cảnh quan, vừa là nơi tích trữ nước khi mưa lớn và chống tràn ngập úng đô thị”, ông chia sẻ.

Đã có thể quy định cấm hoặc hạn chế, đánh thuế phí cao với việc sử dụng rác thải nhựa chưa?

Về vấn đề rác thải nhựa, đại biểu Lê Quân (Hà Nội) đề nghị bộ trưởng làm rõ thời điểm có thể quy định cấm hoặc hạn chế, đánh thuế phí cao đối với việc sử dụng rác thải nhựa, đặc biệt là trong các sinh hoạt, tiêu dùng đối với túi bóng?

Bên cạnh đó, đại biểu nêu hiện công nghệ cho phép sản xuất được polymer nhựa hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp như vỏ chanh, dứa. Nhưng giá thành cao hơn 3-4 lần polymer nhựa vô cơ. Do đó, nên có chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp và người dân, nhà khoa học đầu tư sản phẩm thay thế để hạn chế sử dụng rác thải nhựa không?

Đại biểu Lê Quân (Hà Nội) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Lê Quân (Hà Nội) – Ảnh: GIA HÂN

Trả lời nội dung về rác thải nhựa, Bộ trưởng Khánh cho biết theo Luật Bảo vệ môi trường 2020, bộ đã có chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương trong việc xử lý rác thải nhựa này phải có phân loại, thu gom, xử lý.

Bộ trưởng nêu rõ khó khăn là theo lịch trình đến năm 2025 phải thực hiện việc này.

Về phân loại, theo ông Khánh, bộ đã phối hợp với các địa phương, tổ chức chính trị – xã hội để tuyên truyền tới nhân dân nhưng việc các địa phương lo lắng là thu gom, xử lý do thiếu các nhà máy. Vì vậy, cần cố gắng tăng cường đầu tư.

Về công nghệ polymer nhựa hữu cơ, Bộ trưởng Khánh nói là rất tốt và muốn xử lý triệt để. Về chính sách cần nghiên cứu, tham mưu để có chính sách phù hợp. Thời gian tới sẽ kêu gọi các đơn vị nghiên cứu, tham mưu báo cáo cấp có thẩm quyền.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn sau đó cho biết câu hỏi này nằm ngoài nhóm vấn đề chất vấn nên đề nghị bộ trưởng trả lời bằng văn bản.

Đại biểu “truy” nguyên nhân nhiều năm xử lý dòng sông chết không hiệu quả

Trả lời câu hỏi về đấu giá quyền khai thác khoáng sản của đại biểu Ma Thị Thúy (Tuyên Quang), Bộ trưởng Đặng Quốc Khánh cho hay việc đấu giá khai thác khoáng sản được thực hiện ở 830 khu vực. Do đây là tài sản công nên phải tăng cường đấu giá khoáng sản, đảm bảo thu hồi cho ngân sách nhà nước và hiệu quả sử dụng khoáng sản.

Tuy nhiên, để đảm bảo an ninh quốc gia, an ninh năng lượng, như than, uranni, mỏ đá vôi đá sét, mỏ nước khoáng cho nghỉ dưỡng, khu vực đảm bảo quốc phòng an ninh… sẽ không đấu giá cấp quyền khai thác.

Để đấu giá với các khoáng sản loại 1, phải tăng cường quản lý nhà nước về điều tra, ưu tiên nguồn lực điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản để thấy trữ lượng và triển khai thực hiện.

Tranh luận về giải pháp hồi sinh các dòng sông chết, đại biểu Nguyễn Hữu Toàn (Lai Châu) đặt câu hỏi  trách nhiệm của bộ về vấn đề ô nhiễm môi trường thế nào mà tình trạng này liên tục gia tăng. Đặc biệt là xử lý với dòng sông Nhuệ, sông Đáy, đã có ủy ban được thành lập nhiều năm nhưng không hiệu quả. Đại biểu đặt câu hỏi về phương hướng xử lý tổng thể thế nào vì liên quan tới sức khỏe và đời sống hàng chục triệu dân?

Đại biểu Nguyễn Hữu Toàn (Lai Châu) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Nguyễn Hữu Toàn (Lai Châu) – Ảnh: GIA HÂN

Theo bộ trưởng, hiện quy định trong luật là quản lý tổ chức lưu vực sông do Thủ tướng quyết định và chỉ đạo. Thời gian qua Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công an, địa phương đã thanh tra kiểm tra, xử phạt với nhiều vi phạm. Thực chất, các dòng sông ô nhiễm, nước thải sinh hoạt tại cụm công nghiệp làng nghề đã tham gia xử lý, kiểm tra giám sát, tăng cường đầu tư hệ thống quan trắc, kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm vi phạm.

Về tranh luận của đại biểu tại sao dòng sông vẫn thế và càng ngày càng nặng lên, bộ trưởng cho rằng do phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu dùng nước tăng lên, trong 50 năm qua tăng lên 3 lần. Tại các đô thị như sông Nhuệ Đáy, sông Cầu, sông Bắc Hưng Hải… khu dân cư lấp đầy, đô thị hóa dẫn tới xả thải, đặc biệt là nước thải sinh hoạt nhiều hơn mà chủ yếu là nước hóa chất từ dầu gội đầu, nước rửa chén…

Vì vậy cần tạo dòng chảy để hòa tan, làm trạm bơm Bắc Hưng Hải xử lý cục bộ. Thực hiện nạo vét, khơi thông trầm tích bùn lắng đọng bên dưới, nâng cao trách nhiệm cộng đồng và doanh nghiệp.

Hà Nội chiếm 65% nguồn thải gây ô nhiễm sông Nhuệ, sông Đáy

Đại biểu Mai Thị Phương Hoa (Nam Định) nêu vấn đề về ô nhiễm nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy. Theo bà Hoa, cử tri tỉnh Nam Định và các tỉnh nằm ở lưu vực sông Đáy là các địa phương chịu tác động nặng nề của ô nhiễm nguồn nước chưa đạt tiêu chuẩn đổ vào. 

Theo báo cáo của bộ, nước thải từ đô thị, làng nghề, nước thải công nghiệp chiếm tỉ lệ lớn nhất trong nước thải phát sinh. Trong khi đó tỉ lệ nước thải thu gom thấp. 

Đây là vấn đề đã nêu trong nhiều nhiệm kỳ. Do đó, bà đề nghị bộ trưởng đánh giá thế nào về việc nơi nào xả thải càng nhiều thì xử lý càng ít và tình trạng đô thị xả thải, nông thôn gánh chịu. Bà cũng đề nghị cho biết bộ đã xử lý trường hợp nào chưa? Ngoài giải pháp thành lập Ủy ban lưu vực sông thì bộ sẽ phối hợp với các địa phương xử lý ô nhiễm sông Nhuệ, sông Đáy thế nào?

Trả lời nội dung này, Bộ trưởng Đặng Quốc Khánh nêu rõ đúng là chất lượng sông Nhuệ, sông Đáy nhiều năm gần đây ô nhiễm mà chưa được cải thiện, đặc biệt các sông nội thành của Hà Nội là đầu nguồn. 

Về nguồn thải ô nhiễm sông Nhuệ, sông Đáy, theo ông Khánh, Hà Nội chiếm 65%, trong đó nước thải từ sản xuất, làng nghề. Toàn sông Nhuệ, sông Đáy có 1.982 nguồn xả thải, trong đó 1.662 nguồn thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh và 39 nguồn thải là khu, cụm công nghiệp.

Thời gian qua, bộ đã tăng cường quan trắc, phân tích môi trường trên sông Nhuệ, sông Đáy. Hiện nay có 5 điểm quan trắc tự động, 42 điểm quan trắc định kỳ môi trường nước mặt. Bên cạnh đó với các điểm xả thải lớn, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường được thiết lập quan trắc thường xuyên, liên tục, kết nối online.

Hiện nay, bộ cũng đang kiểm tra, đánh giá mức chịu tải của các dòng sông.

Cùng với đó, việc thu gom, xử lý nước thải cần xây dựng kế hoạch và có sự vào cuộc của địa phương để chung sức, đồng lòng xử lý được nguồn thải, tạo được dòng chảy.

Về xử lý, ông cũng kiến nghị cần tuyên truyền để tăng cường ý thức cộng đồng, doanh nghiệp. “Có kiểm tra, giám sát đến mấy thì cán bộ, công chức cũng không thể làm xuể được. Ở đây phải tạo được ý thức của người dân, doanh nghiệp đảm bảo môi trường. Đó là sự phát triển bền vững”, bộ trường nói.

Đồng thời, ông đề nghị trong thời gian tới, với đầu tư công cũng cần quan tâm đến thu gom, xử lý nước thải và hệ thống thủy lợi…

Lo ngại nước ngầm bị ô nhiễm do khai thác nhiều

Dẫn ra báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về những hạn chế, yếu kém trong quản lý tài nguyên biển do cơ chế, chính sách pháp luật chưa hoàn thiện, đại biểu Đồng Ngọc Ba (Bình Định) cho rằng các chính sách pháp luật đang xây dựng chưa có nội dung liên quan đến vấn đề tài nguyên môi trường biển đảo. Ông đề nghị bộ trưởng chỉ rõ những bất cập trong chính sách pháp luật và trách nhiệm của bộ về vấn đề này?

Đại biểu Đồng Ngọc Ba (Bình Định) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Đồng Ngọc Ba (Bình Định) – Ảnh: GIA HÂN

Trả lời vấn đề này, Bộ trưởng Khánh cho hay hiện Luật Tài nguyên và Môi trường, biển đảo đang phát sinh bất cập, như điều tra tài nguyên môi trường biển đảo, nhưng cơ sở dữ liệu về biển đảo đang rất thiếu, ít và cần phải tổng hợp.

Việc quản lý tài nguyên môi trường biển đảo cần phối hợp tốt hơn giữa bộ ngành, địa phương, vùng bờ và môi trường biển, cần phải vừa đảm bảo vừa phát triển bền vững, bảo tồn, giải quyết chồng lấn, giao thoa giữa các lĩnh vực, ngành với thứ tự ưu tiên để phân vùng sử dụng, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý và sử dụng không gian biển.

Dùng quyền tranh luận về giải pháp chống hạn, đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) cho biết để chống hạn, nhiều người dân ở vùng như Tây Nguyên phải dùng nước ngầm, khoan sâu ở độ sâu 70 – 80 mét, là tầng nước tích tụ hàng trăm năm, gây nên nguy cơ nguồn nước ngầm suy cạn và bị ô nhiễm. “Chúng tôi chưa thấy bộ trưởng đề cập vấn đề này và giải pháp quy hoạch và bảo vệ nguồn nước ngầm như thế nào?” – ông Tám nêu câu hỏi.

Đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) – Ảnh: GIA HÂN

Về vấn đề này, Bộ trưởng Khánh nhìn nhận thực trạng sử dụng nước ngầm ở một số nơi chưa đánh giá được tác động. Việc khoan và sử dụng nước ngầm với khối lượng lớn, gây ảnh hưởng tới địa chất và hệ thống dòng chảy nước ngầm, khô hạn. Nguy cơ ô nhiễm này là hiện hữu nên ông Khánh cho biết đang đánh giá nguy cơ một số vùng và khuyến cáo nhân dân.

Theo đó, bộ đã ban hành thông tư số 03 quy định chi tiết về thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, đưa ra việc lập, điều chỉnh kế hoạch, quy hoạch, có kế hoạch bảo vệ nước ngầm.

Đến 2023, thu từ cấp quyền khai thác khoáng sản đạt trên 55.887 tỉ đồng

Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình) nêu bộ trưởng đã trả lời các đại biểu về việc cần thiết đấu giá quyền thăm dò, khai thác khoáng sản, tiếp tục hoàn thiện quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, bộ trưởng chưa đề cập đến thực trạng thực hiện đấu giá hiện nay. 

Ông Cường dẫn báo cáo của Kiểm toán Nhà nước nêu ra nhiều tồn tại trong xác định việc cấp quyền khai thác khoáng sản, việc thực hiện đấu giá quyền thăm dò, khai thác khoáng sản còn nhiều vi phạm, nhiều địa phương chậm thực hiện đấu giá quyền khai thác khoáng sản…

Từ đó, ông đề nghị bộ trưởng cho biết rõ về thực trạng, trách nhiệm, giải pháp để khắc phục hạn chế, tiêu cực, đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cho Nhà nước.

Tranh luận sau đó, đại biểu Trần Hữu Hậu (Tây Ninh) dẫn lại trả lời của bộ trưởng về đấu giá quyền khai thác khoáng sản. 

Theo đó, bộ trưởng cho rằng việc đấu giá còn phụ thuộc vào quy định các khu vực cấp phép khai thác không thông qua đấu giá vì liên quan quốc phòng, an ninh, các quy định cụ thể khác. 

Ông cũng dẫn lại báo cáo tổng kết 13 năm thực hiện Luật Khoáng sản năm 2010 cho thấy bộ đã cấp 441 giấy phép khai thác nhưng chỉ có 10 khu vực thông qua đấu giá. 

UBND các tỉnh, thành phố cấp khoảng 3.000 giấy phép, trong đó chỉ có 827 khu vực thông qua đấu giá. Mặc dù sau đấu giá giá tăng 20-40% so với giá khởi điểm. Như vậy tỉ lệ cấp phép khai thác không qua đấu giá là rất thấp, dù hiệu quả cao hơn. Đại biểu nêu câu hỏi vậy bộ trưởng có chắc chắn hàng ngàn khu vực khoáng sản cấp quyền khai thác thông qua đấu giá hơn 10 năm qua là đúng theo quy định không?

Trả lời câu hỏi của đại biểu Cường, Bộ trưởng Khánh cho hay sau 13 năm thực hiện Luật Khoáng sản, đã giúp tăng nguồn thu ngân sách, trách nhiệm các chủ mỏ. Tính đến năm 2023, tổng số tiền cấp quyền là hơn 55.887 tỉ đồng. 

Tuy nhiên có bất cập được đại biểu đặt ra về tiền cấp quyền được tính theo trữ lượng khai thác mà không phụ thuộc khai thác thực tế, nên có những biến động do có những mỏ không đánh giá được trữ lượng tuyệt đối, không đảm bảo độ chính xác – bộ trưởng thừa nhận có thực tế việc này.

Do đó để tính toán quyền cấp quyền này hợp lý, cơ quan soạn thảo dự thảo Luật Địa chất khoáng sản sẽ tham mưu tiền cấp quyền được tính theo trữ lượng, nhưng sau này sẽ quyết toán theo khối lượng thực tế. Ông Khánh nói các cơ quan chức năng sẽ phải có trách nhiệm kiểm soát đảm bảo các doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải nộp tiền cấp quyền khai thác theo đúng quy định theo luật. Tới đây sẽ sửa đổi quy định để làm căn cứ thực hiện.

Đại biểu Trần Hữu Hậu - Ảnh: GIA HÂN

Đại biểu Trần Hữu Hậu – Ảnh: GIA HÂN

Trả lời câu hỏi của đại biểu Trần Hữu Hậu về vấn đề đấu giá, Bộ trưởng Khánh cho biết theo nghị định 158 có 7 nội dung không thực hiện cấp quyền khai thác khoáng sản không qua đấu giá. Ví dụ để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đang giao cho Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam thực hiện khai thác các mỏ than.

Theo đó, thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường là cấp phép không qua đấu giá liên quan tới 7 lĩnh vực đã được quy định, gồm các mỏ khoáng sản thiết yếu quan trọng, mỏ liên quan chiến lược an ninh quốc gia, bộ sẽ cấp phép mà không qua đấu giá.

Với doanh nghiệp nhà nước đã thăm dò, sẽ được ưu tiên cấp phép thực hiện khai thác. Nhưng khi liên doanh liên kết hoặc doanh nghiệp không làm thì phải báo cáo để Nhà nước thu hồi.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị cùng trả lời về sử dụng cát biển làm vật liệu san lấp

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị - Ảnh: GIA HÂN

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị – Ảnh: GIA HÂN

Về khai thác cát biển làm vật liệu xây dựng, ông Nghị cho biết Bộ Xây dựng đã ban hành tương đối đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật về xử lý tro xỉ, thạch cao sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất làm vật liệu xây dựng. Trong đó bao gồm 19 tiêu chuẩn, 1 quy chuẩn, 7 chỉ dẫn kỹ thuật và 3 định mức kinh tế kỹ thuật cho các lĩnh vực làm nguyên liệu sản xuất xi măng, vữa xây bê tông, gia cố đất làm vật liệu đường giao thông, vật liệu san lấp… Hiện nay cũng đã có tiêu chuẩn cát nghiền làm bê tông, làm vữa cũng như ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm hàng hóa vật liệu xây dựng, trong đó có cát nghiền. Đối với cát nhiễm mặn, ông Nghị cho hay bộ đã hoàn thành xây dựng và ban hành tiêu chuẩn cát nhiễm mặn cho bê tông và vữa, cũng như ban hành cấp phối, tái chế chất thải rắn xây dựng để làm móng đường giao thông đô thị. Với cát nhiễm mặn làm vật liệu san lấp đường giao thông, theo bộ trưởng Bộ Xây dựng, hiện nay Thủ tướng đã giao Bộ Giao thông vận tải chủ trì xây dựng đề án nghiên cứu đánh giá cũng như thí điểm sử dụng cát biển đắp nền đường. Bộ Giao thông vận tải hoàn thành thí điểm và có báo cáo. Theo đó, Bộ Giao thông vận tải đề nghị các tỉnh căn cứ nhu cầu, điều kiện thực tế triển khai các dự án ở địa phương, tiếp tục triển khai mở rộng sử dụng cát biển làm dự án công trình giao thông. Việc này, bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã báo cáo đánh giá trữ lượng, tài nguyên khoáng sản sử dụng cát biển đáp ứng nhu cầu san lấp. Ngoài ra, bộ trưởng Bộ Xây dựng cũng cho hay tiêu chuẩn về xây dựng nền đường ô tô đối với công tác thi công, thí nghiệm cũng đã có xác định yêu cầu kỹ thuật cho vật liệu đắp nền đường.

5 nguyên nhân dẫn đến ngập úng đô thị

Trả lời về vấn đề ngập úng đô thị do nguyên nhân san lấp ao hồ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị khẳng định tình trạng này diễn ra phức tạp. Bộ đánh giá có một số nguyên nhân. Thứ nhất, do tác động của tự nhiên, biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Thứ hai, do đô thị hóa diễn ra nhanh chóng dẫn đến nhu cầu xây dựng tăng cao, san lấp ao hồ, kênh, rạch, diện tích bề mặt ngày càng bê tông hóa, khả năng tiêu thoát nước, thẩm thấu tự nhiên giảm xuống. Thứ ba, công tác quy hoạch chưa đảm bảo, đáp ứng được dự báo, phòng, chống ngập úng đô thị. Thứ tư, việc triển khai thực hiện quy hoạch và việc lập, thực hiện các dự án đầu tư theo quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu. Thứ năm, ý thức của người dân còn chưa cao, việc xả rác thải vẫn còn diễn ra dẫn đến cản trở dòng nước… Về giải pháp, theo ông Nghị, sẽ tiếp tục hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách có liên quan thoát nước, xử lý nước thải. Trong đó, tập trung xây dựng Luật Quy hoạch đô thị nông thôn, Luật Cấp thoát nước, Luật Quản lý phát triển đô thị và hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức có liên quan. Cùng với đó, ông Nghị cho biết sẽ nâng cao việc lập, quản lý quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị. Tập trung nguồn lực xây dựng đồng bộ hạ tầng đô thị để phục vụ đảm bảo thoát nước, xử lý nước thải đô thị. Bên cạnh đó, tiếp tục rà soát, tập trung hướng dẫn, đôn đốc, thanh tra, kiểm tra ở các địa phương triển khai quy hoạch, triển khai quy định về thoát nước, xử lý nước thải đô thị.

Phát biểu khai mạc, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết phiên chất vấn, trả lời chất vấn diễn ra trong 2,5 ngày, được phát thanh, truyền hình trực tiếp để cử tri, nhân theo dõi. Ông nói hoạt động chất vấn tại kỳ họp này tiếp tục được thực hiện theo đúng luật.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh hoạt động chất vấn tại kỳ họp này tiếp tục được thực hiện theo đúng quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân. Quốc hội sẽ tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn thuộc trách nhiệm của 4 bộ trưởng, trưởng ngành gồm Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tổng Kiểm toán nhà nước.

Chủ tịch Quốc hội cho biết Chính phủ đã phân công Phó thủ tướng Trần Hồng Hà sẽ thay mặt Chính phủ làm rõ các vấn đề có liên quan đến công tác điều hành của Chính phủ và trực tiếp trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội vào cuối phiên chất vấn.

Ông Mẫn nêu rõ phiên chất vấn tiếp tục tiến hành theo cách thức “hỏi nhanh, đáp gọn”. Theo đó, người trả lời chất vấn có thời gian không quá 5 phút phát biểu về vấn đề thuộc lĩnh vực chất vấn trước khi Quốc hội tiến hành chất vấn; mỗi lượt chủ tọa phiên họp sẽ mời 3 đại biểu đặt câu hỏi, mỗi đại biểu Quốc hội nêu chất vấn không quá 1 phút; tranh luận không quá 2 phút; thời gian trả lời không quá 3 phút cho mỗi câu hỏi.

Các thành viên Chính phủ, các trưởng ngành liên quan sẽ tham gia giải trình theo sự điều hành của chủ tọa phiên họp để làm rõ hơn những vấn đề chất vấn của đại biểu Quốc hội. Ông tin tưởng phiên chất vấn, trả lời chất vấn sẽ diễn ra sôi nổi trên tinh thần xây dựng, trách nhiệm cao. Có nhiều thông tin về thực trạng tình hình, đề xuất, hiến kế cho Chính phủ, các bộ trưởng, trưởng ngành khắc phục khó khăn, vướng mắc trong thực tế…

Theo Thành Chung – Ngọc An – Tiến Long

https://tuoitre.vn/bo-truong-dang-quoc-khanh-den-2023-thu-tu-cap-quyen-khai-thac-khoang-san-dat-tren-55-800-ti-dong-2024060406380639.htm

127 views

Chương trình Giữ trọn lời thề

Bảng giá quảng cáo và dịch vụ 2024

Chương trình Phát thanh

Quảng cáo

Thông tin cần biết